Vốn tín dụng - nguồn lực cho các chương trình mục tiêu quốc gia
Vốn rót cho doanh nghiệp tư nhân chiếm 44% dư nợ tín dụng Không khó để tăng tín dụng 16%, vấn đề là sử dụng vốn hiệu quả |
Chia sẻ về những giải pháp của Ngân hàng Nhà nước triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia, Phó Thống đốc Thường trực Đào Minh Tú cho biết, trên cơ sở các nghị quyết của Quốc hội, quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các chương trình mục tiêu quốc gia, Ngân hàng Nhà nước đã nghiên cứu, rà soát, ban hành/trình ban hành cơ chế, chính sách thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.
Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai quyết liệt nhiều giải pháp góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, qua đó góp phần thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025.
Theo Phó Thống đốc Đào Minh Tú, việc điều hành chủ động, linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, phối hợp hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác đã góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó, việc điều hành tín dụng phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, đáp ứng kịp thời vốn cho sản xuất, kinh doanh, Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các tổ chức tín dụng hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, đồng thời triển khai các chương trình tín dụng đặc thù hỗ trợ các ngành, lĩnh vực kinh tế như chương trình tín dụng ngành lâm sản, thủy sản với quy mô đến nay là 100.000 tỷ đồng, các chương trình tín dụng chính sách đối với hộ nghèo, các đối tượng chính sách khác tại Ngân hàng Chính sách xã hội nhằm góp phần giảm nghèo bền vững.
Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố và các tổ chức tín dụng triển khai nhiệm vụ của ngành ngân hàng tại chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, trong đó giao Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố theo dõi, nắm bắt tình hình cho vay phục vụ xây dựng nông thôn mới của các tổ chức tín dụng để kịp thời hỗ trợ giải quyết khó khăn, vướng mắc trong quan hệ tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng vay vốn trên địa bàn.
![]() |
Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú. |
Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp về chính sách tiền tệ, ngân hàng, cùng với các nhiệm vụ của ngành ngân hàng tại các chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn vốn tín dụng trở thành nguồn lực quan trọng để thực hiện các mục tiêu đề ra tại các chương trình mục tiêu quốc gia.
Hiện có hơn 10 triệu khách hàng đang được thụ hưởng các chương trình, sản phẩm tín dụng của ngành Ngân hàng với dư nợ tín dụng trên địa bàn các xã trên toàn quốc đạt trên 2,2 triệu tỷ đồng, với dư nợ phần lớn khách hàng là các cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, vượt kế hoạch đề ra cho cả giai đoạn 2021-2025 dự kiến khoảng 1.790.000 tỷ đồng (theo Quyết định số 263/QĐ-TTg, vốn tín dụng).
Dư nợ tín dụng chính sách góp phần thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia đạt trên 376 nghìn tỷ đồng, với khoảng 6,8 triệu khách hàng còn dư nợ; dư nợ tín dụng chính sách ưu đãi cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo Nghị định số 28/2022/NĐ-CP của Chính phủ đạt trên 2,4 nghìn tỷ đồng, với trên 49 nghìn khách hàng còn dư nợ.
Nguồn vốn tín dụng góp phần thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững đã đạt chỉ tiêu Quốc hội, Chính phủ giao. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều đến năm 2024 là 1,93%; tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo là 24,86%; tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số còn 12,55% (giảm 3,95%).
Nói về một số khó khăn vướng mắc trong thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là về nguồn vốn, Phó Thống đốc Đào Minh Tú cho biết, việc triển khai chính sách tín dụng ưu đãi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo Nghị định số 28/2022/NĐ-CP đạt thấp (chỉ đạt 2.317/9.000 tỷ đồng (25,7%) giai đoạn 2022-2023; đạt 2.401/19.727 tỷ đồng giai đoạn 2021-2025).
Nguyên nhân là do việc hoàn thiện các văn bản của các bộ, ngành còn chậm (đến tháng 9/2022, Ủy ban Dân tộc và Bộ Y tế mới hoàn thành xong các văn bản hướng dẫn/sửa đổi bổ sung thực hiện Nghị định, dẫn đến chậm tiến độ xác nhận và phê duyệt danh sách người dân được thụ hưởng chính sách của các địa phương ảnh hưởng đến việc giải ngân của Ngân hàng Chính sách xã hội (đến cuối năm 2023, có 44/49 địa phương công bố danh sách). Bên cạnh đó, Ngân hàng Chính sách xã hội chưa được bố trí nguồn vốn cho vay giai đoạn 2024-2025.
Việc giải ngân cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội còn khó khăn do tại một số địa phương, không còn hoặc chưa bố trí được quỹ đất ở/đất sản xuất để bố trí giao đất cho hộ dân hoặc đất chủ yếu là đất nông nghiệp, chưa chuyển đổi mục đích, chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân, ảnh hưởng đến giải ngân của Ngân hàng Chính sách xã hội.
Dư nợ cho vay chuỗi giá trị thấp (4,9 tỷ đồng) và chưa giải ngân cho vay vùng trồng dược liệu quý, do tại một số địa phương chưa ban hành quy định về mẫu hồ sơ, trình tự, thủ tục lựa chọn dự án theo quy định tại Nghị định số 27/2022/NĐ-CP và Nghị định số 38/2023/NĐ-CP của Chính phủ, chưa hình thành dự án đầu tư cụ thể; chưa phê duyệt dự án đầu tư thuộc đối tượng thụ hưởng chính sách vay vốn, do vậy Ngân hàng Chính sách xã hội không có cơ sở để giải ngân cho vay. Đến nay, mới có 1 địa phương (Lào Cai) phát sinh cho vay theo chuỗi giá trị; 1 địa phương (Quảng Ngãi) đã phê duyệt dự án dược liệu quý, trong đó có phát sinh nhu cầu tín dụng. Tuy nhiên, do giai đoạn 2024-2025 chưa được bố trí nguồn vốn nên Ngân hàng Chính sách xã hội chưa thực hiện cho vay đối với dự án.
Trong thời gian tới, Phó Thống đốc Đào Minh Tú cho biết, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn để tạo thuận lợi hơn nữa cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn (đang chờ văn bản thẩm định chính thức của Bộ Tư pháp để sớm trình Chính phủ), đồng thời rà soát sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của Nghị định 28/2022/NĐ-CP sau khi Thủ tướng Chính phủ có Quyết định phê duyệt sửa đổi, bổ sung Quyết định 1719/QĐ-TTg.
Để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trên về nguồn vốn cho các chương trình mục tiêu quốc gia, Phó Thống đốc Thường trực Đào Minh Tú đề nghị Bộ Tài chính, Bộ Dân tộc và Tôn giáo (cơ quan chủ quản chương trình mục tiêu quốc gia) khẩn trương tham mưu, báo cáo Chính phủ xem xét, bố trí nguồn vốn cho Ngân hàng Chính sách xã hội triển khai các chính sách tín dụng ưu đãi theo Nghị định số 28/2022/NĐ-CP cho giai đoạn 2024-2025, đảm bảo tính khả thi của chính sách đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo sớm rà soát nhu cầu vay vốn của các địa phương để tiếp tục bổ sung, sửa đổi, thay thế các chính sách tín dụng ưu đãi cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 phù hợp nhu cầu của đồng bào và mục tiêu của chương trình; đồng thời đề xuất bố trí đầy đủ nguồn vốn từ nguồn đầu tư công để thực hiện Chương trình, tránh việc ban hành chính sách nhưng không bố trí kịp thời nguồn vốn để Ngân hàng Chính sách xã hội triển khai cho vay các chính sách tín dụng ưu đãi cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi như giai đoạn hiện nay.
Phó Thống đốc đề nghị cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm, bố trí quỹ đất ở, đất sản xuất để triển khai chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất theo Nghị định số 28/2022/NĐ-CP của Chính phủ; tạo điều kiện về thủ tục đầu tư, sớm phê duyệt các dự án phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, dự án phát triển vùng dược liệu quý để Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay theo quy định...