Những hành vi bị cấm trong Luật Trí tuệ nhân tạo
| Công bố nhiều ứng dụng trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo & công nghiệp bán dẫn Ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào công tác người Việt Nam ở nước ngoài Thí điểm dạy AI tại trường phổ thông từ tháng 12/2025 |
Luật Trí tuệ nhân tạo gồm 8 Chương, 35 điều, tập trung vào các nguyên tắc nền tảng và trao quyền linh hoạt cho Chính phủ quy định chi tiết, bảo đảm khả năng thích ứng với tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ.
Các nhóm vấn đề chính được luật tập trung điều chỉnh gồm: Nguyên tắc và chính sách phát triển AI; cơ chế quản lý theo mức độ rủi ro; phát triển hạ tầng và bảo đảm chủ quyền AI quốc gia; thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực; đạo đức và trách nhiệm trong hoạt động AI; cơ chế giám sát, thanh tra và xử lý vi phạm.
Một số hành vi bị cấm trong Luật, gồm:
Thứ nhất, cấm lợi dụng, chiếm đoạt hệ thống trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Thứ hai, phát triển, cung cấp, triển khai hoặc sử dụng các hệ thống trí tuệ nhân tạo nhằm mục đích thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của luật; Sử dụng yếu tố giả mạo hoặc mô phỏng người, sự kiện thật để lừa dối hoặc thao túng nhận thức, hành vi của con người một cách có chủ đích và có hệ thống, gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của con người.
Lợi dụng điểm yếu của nhóm người dễ bị tổn thương, gồm trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, để gây tổn hại cho chính họ hoặc người khác; Tạo ra hoặc phổ biến nội dung giả mạo có khả năng gây nguy hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Thứ ba, thu thập, xử lý hoặc sử dụng dữ liệu để phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo trái với quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, sở hữu trí tuệ và an ninh mạng.
Thứ tư, cản trở, vô hiệu hóa hoặc làm sai lệch cơ chế giám sát, can thiệp và kiểm soát của con người đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo theo quy định của Luật này.
Thứ năm, che giấu thông tin bắt buộc phải công khai, minh bạch hoặc giải trình; tẩy xóa, làm sai lệch các thông tin, nhãn, cảnh báo bắt buộc trong hoạt động trí tuệ nhân tạo.
Thứ sáu, lợi dụng hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá hoặc kiểm định hệ thống trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi trái quy định của luật.
Luật Trí tuệ nhân tạo được kỳ vọng tạo ra bước đột phá chiến lược, giúp Việt Nam chuyển từ quốc gia tiêu thụ sang quốc gia kiến tạo giá trị, thông qua việc giải quyết các điểm nghẽn cốt lõi về thể chế, hạ tầng, dữ liệu và tài chính.



