Chi phí sinh hoạt ở TP HCM, Hà Nội đắt đỏ nhất cả nước

Trong năm 2018, TP HCM có mức giá sinh hoạt cao nhất cả nước, cao hơn so với Hà Nội.
chi phi sinh hoat o tp hcm ha noi dat do nhat ca nuoc

Tổng cục Thống kê vừa công bố chỉ số giá sinh hoạt theo không gian năm 2018 (SCOLI) cho thấy TP HCM và Hà Nội là 2 địa phương có mức giá cao nhất cả nước.

Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá sinh hoạt theo không gian là chỉ tiêu thống kê quốc gia, phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá sinh hoạt giữa các Vùng, địa phương trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Chỉ số SCOLI phục vụ hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đánh giá kết quả thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo, trợ cấp khó khăn, trợ cấp tiền lương.

Đồng thời chỉ số này còn là cơ sở để tính Chỉ số phát triển con người (HDI), Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo sức mua tương đương. Các doanh nghiệp có thể sử dụng chỉ số SCOLI để đánh giá tính cạnh tranh liên quan đến giá, thị phần, chi phí sản phẩm; các cá nhân có thể sử dụng chỉ số SCOLI để thương lượng về mức tiền công và xem xét khả năng di cư giữa các tỉnh…

Chỉ số SCOLI theo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được tính toán trên cơ sở so sánh với mức giá bình quân của thành phố Hà Nội, nói cách khác lấy mức giá của thành phố Hà Nội là 100 để tính toán chỉ số SCOLI của các tỉnh.

Trong năm 2018, TP HCM có mức giá cao nhất cả nước. Mức giá của TP HCM bằng 101,47% so với Hà Nội. Đứng vị trí thứ hai là Hà Nội.

Nhìn chung giá bình quân các nhóm hàng của TP HCM tương đương với Hà Nội, tuy vậy nhóm giáo dục cao hơn 14,46% ở nhóm học phí lớp 11 trường công lập và học phí trung cấp; Nhóm bưu chính viễn thông của TP HCM có mức giá cao hơn Hà Nội 103.97% chủ yếu ở nhóm hàng máy điện thoại di động và sửa chữa điện thoại.

Đà Nẵng đứng thứ 3 cả nước bằng 97,81% so với Hà Nội. Hầu hết các nhóm hàng của Đà Nẵng đều tương đồng so với Hà Nội. Riêng giá học phí mẫu giáo và học nghề kỹ thuật của Đà Nẵng có mức thấp hơn so với Hà Nội từ 25% - 30%.

So với năm 2017 vị trí các tỉnh có mức giá đắt đỏ trong năm 2018 không có sự thay đổi lớn. Tuy nhiên, các tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc có mức giá dần rẻ hơn so với những năm trước đây do giao thông ngày càng thuận lợi hơn nên giảm chi phí vận chuyển và lưu trữ hàng hóa. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có mức đắt đỏ hơn các tỉnh miền núi chủ yếu ở các nhóm hàng dịch vụ, giải trí và du lịch.

Cũng theo Tổng cục thống kê, so với năm 2017, năm 2018 có 26 tỉnh biến động giảm mức độ đắt đỏ và có 26 tỉnh biến động tăng mức độ đắt đỏ. Trong đó các tỉnh biến động tăng giảm nhiều nhất là: Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Bình Định, Đắk Lắk, Vũng Tàu, Long An, Quảng Trị, Thái Bình, Yên Bái, Lai Châu, Bắc Kạn, Cao Bằng.

Quảng Ngãi, Thái Bình, Quảng Trị, Đắk Lắk là bốn tỉnh có chỉ số SCOLI thay đổi biên độ lớn nhất trong cả nước, bốn tỉnh này có sự biến động giảm mức đắt đỏ xuống 8 bậc so với năm 2017. Mức giá chung của tỉnh Quảng Ngãi xếp vị trí thứ 48 trong năm 2017 nhưng đến năm 2018 xếp ở vị trí thứ 56 trong cả nước. Quảng Ngãi biến động giảm mức đỏ chủ yếu ở nhóm hàng lương thực, thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình. Nhóm thực phẩm giảm giá chủ yếu ở nhóm hàng thủy sản tươi sống và thủy sản chế biến. Giá đường của tỉnh Quảng Ngãi có mức giảm nhiều nhất, giảm 20% so với năm trước. Giá đường của tỉnh Quảng Ngãi chỉ bằng 65% giá đường của Hà Nội. Mức giá chung của tỉnh Thái Bình, Quảng Trị, Đắk Lắk có mức biến động giảm lần lượt từ năm 2017 là 42, 25, 19 nhưng đến năm 2018 xếp ở vị trí là 50, 33 và 27. Nguyên nhân chính các tỉnh có sự thay đổi vị trí giảm mức độ đắt đỏ chủ yếu do mặt hàng lương thực, thực phẩm, đồ uống thuốc lá, hàng may mặc có mức giá giảm hơn năm trước từ 2% đến 11%.

Thừa thiên Huế và Bình Định có sự biến động tăng mức độ đắt đỏ hơn so với năm 2017. Thừa thiên Huế từ vị trí thứ 12 trong năm 2017 lên vị trí 3 trong năm 2018 do giá dịch vụ y tế năm 2018 tăng 4,27% và giá dịch vụ giáo dục tăng 7,83% chủ yếu ở nhóm học phí học nghề trung cấp tăng 18,60%, học phí cao đẳng tăng 11,12%, học phí đại học tăng 10,38% so với năm trước; nhóm giao thông tăng 7,47% so với năm 2018. Bình Định từ vị trí 36 trong năm 2017 lên vị trí 28 trong năm 2018 do giá dịch vụ y tế tăng 19,56% trong đó giá dịch vụ khám chữa bệnh nội trú tăng 34,60% và học phí phổ thông trung học tăng 14,39%, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 15,83% với năm 2017.

Một số tỉnh có mức giá đắt đỏ hơn năm trước như: Cao Bằng, Bắc Kạn, Yên Bái, Vũng Tàu, Long An, Hải Phòng, Nghệ An từ 5 đến 7 bậc…chủ yếu đắt đỏ hơn ở các mặt hàng dịch vụ. Đối với các tỉnh thuộc Vùng Trung Du và vùng núi phía Bắc như Cao Bằng, Bắc Kạn, Yên Bái mức độ đắt đỏ đã tăng lên ở các dịch vụ trong gia đình, dịch vụ giao thông công cộng, sửa chữa nhà ở, dịch vụ giúp việc trong gia đình với mức tăng từ 4% -10%. Vũng Tàu có mức đắt đỏ tăng 6 bậc chủ yếu ở nhóm dịch vụ khám chữa bệnh nội trú tăng 75,98%, dịch vụ du lịch trọn gói tăng 9,33%, nhà hàng, khách sạn tăng 13,63%. Long An, Nghệ An, Hải Phòng tăng chủ yếu ở nhóm dịch vụ giao thông, dịch vụ giáo dục và dịch vụ y tế với mức tăng từ 12% đến 34%.

Văn Huy
Phiên bản di động